CƯỢC FUN88
Đất nước Vietnam
Mùa giải 2022
Ngày khởi tranh 25/02/2022
Ngày kết thúc 19/11/2022
Số vòng đấu 26
Vòng hiện tại Regular Season - 18

Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (tiếng Anh: V. League 1, còn có tên gọi Night Wolf V.League 1 vì lý do tài trợ) là giải đấu bóng đá chuyên nghiệp cao nhất Việt Nam, do Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) điều hành. Giải đấu bao gồm 13 đội thi đấu theo thể thức đấu vòng tròn sân nhà và sân khách. Đội bóng đứng đầu bảng ở cuối mùa giải được dự AFC Champions League mùa sau.[1]

Giải ra mắt vào năm 1980 với tên gọi Giải bóng đá A1 toàn quốc. Tổng cục Đường sắt là đội bóng vô địch đầu tiên. Đội bóng thành công nhất trong lịch sử giải là Viettel, đội bóng kế thừa của Thể Công với tổng cộng 6 chức vô địch V.League.[2]

Giải chuyển sang chuyên nghiệp từ mùa 2000–01 nhằm cho phép các câu lạc bộ tuyển trạch các cầu thủ nước ngoài tham gia thi đấu. Với sự ra đời của VPF vào năm 2012, quyền tổ chức chuyển từ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) sang VPF.

Lịch sử

Cơ sở hình thành

Hệ thống giải thi đấu bóng đá cấp quốc gia của Việt Nam bắt đầu hình thành từ năm 1955 với Giải Hòa Bình (được đổi tên thành Giải hạng A Quốc gia vào năm 1956),[3] ngay từ khi bắt đầu đã phân làm hai hạng A và B.[4] Giải được liên tục tổ chức bất chấp tình hình đất nước đang gặp phải chiến tranh. Thậm chí, các câu lạc bộ nội địa giai đoạn này còn rất phát triển, tiêu biểu như thành phố Hải Phòng đã có 10 đội bóng.[5] Giai đoạn này, Công an Hải Phòng là đội bóng thành công nhất với 10 chức vô địch, Thế Công đứng thứ hai với 9 chức vô địch. Tuy hệ thống thi đấu Cúp Quốc gia chưa hình thành nhưng các câu lạc bộ lúc đó vẫn tham gia các kỳ Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc.

Sau khi đất nước thống nhất, hệ thống giải vô địch quốc gia của Việt Nam được tổ chức theo các khu vực: miền Bắc với giải Hồng Hà, miền Trung với giải Trường Sơn và miền Nam với giải Cửu Long. Các đội vô địch và có thứ hạng thấp nhất mỗi khu vực sẽ ra Hà Nội để thi đấu chọn đội vô địch và xuống hạng. Thời điểm này, tổng cộng có 40 đội tham gia ở hạng cao nhất nhưng hạng Nhất chỉ có 26 đội.[6] Trong đó:

  • Giải Hồng Hà gồm 16 đội với những cái tên tiêu biểu như: Câu lạc bộ Quân đội (Thể Công), Quân khu Thủ đô, Tổng cục Đường sắt, Công an Hà Nội, Quân khu 3, Phòng không Không quân, Cảng Hải Phòng, Công nhân Xây dựng Hà Nội, Tổng cục Bưu điện, Công an Hải Phòng, Dệt Nam Định, Than Quảng Ninh, Công nhân Xây dựng Hải Phòng, Điện Hải Phòng, Công nghiệp Hà Nam Ninh, Thanh niên Hà Nội.
  • Giải Trường Sơn gồm 8 đội: Thanh niên Bình Định, Phú Khánh, Công nhân Quảng Nam Đà Nẵng, Lâm Đồng, Bình Trị Thiên, Thanh niên Thanh Hoá, Sông Lam Nghệ Tĩnh, Gia Lai Kon Tum.
  • Giải Cửu Long gồm 16 đội: Hải quan, Cảng Sài Gòn, Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Công nghiệp Thực phẩm, Tây Ninh, An Giang, Tiền Giang, Đồng Tháp, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng, Công nhân hoá chất, Tổng cục Vật tư, Sông Bé, Long An, Đồng Nai, Thanh niên Hậu Giang, Vĩnh Long.

Theo thể thức này, các đội vô địch ở các giải tổ chức theo khu vực sẽ gặp nhau ở vòng chung kết ở Hà Nội để chọn đội vô địch và các đội đứng cuối ở các giải khu vực sẽ gặp nhau để tìm đội xuống hạng, thường gọi là vòng chung kết ngược.

Nhận thấy hệ thống thi đấu theo các khu vực có quá nhiều hạn chế, hệ thống giải vô địch quốc gia của Việt Nam có sự thay đổi lớn vào năm 1979. Giải năm 1979 được coi là Giải phân hạng để tiến hành sắp xếp lại hệ thống thi đấu. Cụ thể, thể thức thi đấu của năm 1980 được xây dựng trên cơ sở kết quả năm 1979, 8 đội mạnh nhất của giải Hồng Hà, 2 đội của giải Trường Sơn và 8 đội của giải Cửu Long. Các đội còn lại đá giải hạng A2. Tuy nhiên, tại mùa giải đầu tiên do Hội Bóng đá Việt Nam (tiền thân của VFF) tổ chức vào năm 1980, đương kim vô địch Thể Công đã xin rút lui để chấn chỉnh nội bộ nên giải năm 1980 chỉ có 17 đội tham dự. Đây chính là tiền đề để xây dựng Giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam sau này.

Phát triển

Giải bóng đá vô địch quốc gia là sân chơi hạng cao nhất trong hệ thống thi đấu của bóng đá Việt Nam, do VFF tổ chức từ năm 1980, tính đến năm 2021 đã trải qua 38 mùa giải (năm 1988 không tổ chức, năm 1999 chỉ có giải Tập huấn mùa Xuân và năm 2021 bị hủy).

Giải đấu đã có những sự thay đổi từ tên gọi cho đến số lượng các đội tham dự cũng như thể thức thi đấu. Trong giai đoạn 1980-1996, giải liên tục phải thay đổi thể thức khi không thể thức nào tồn tại quá 2 năm. Tới năm 1996, thể thức thi đấu sân nhà-sân khách chính thức được áp dụng và ổn định tới hiện nay. Năm 1988, Tổng cục Thể dục Thể thao tạm ngừng tổ chức giải để chấn chỉnh toàn bộ hệ thống thi đấu. Tới năm 1989, giải được tổ chức phân hạng lại với 32 đội tham gia chọn ra 18 đội mạnh nhất đá giải hạng A1. Tới năm 1989, hạng A1 còn 11 đội khi các đội xếp dưới kết hợp với 3 đội mạnh nhất hạng A2 hình thành hạng A2 mới. Tiếp đó, tên giải đổi thành Giải đội mạnh toàn quốc kể từ năm 1990 và mang tên là Giải hạng Nhất quốc gia trong giai đoạn 1996-2000.

Từ mùa giải 2000–01 đến 2011, bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, giải vô địch quốc gia chính thức mang tên V.League với sự tham dự của các cầu thủ nước ngoài.

Giải đã có 6 lần đổi tên, trung bình cứ 5 mùa giải lại đổi tên một lần. Giải đấu cũng đã 3 lần thay đổi về mặt thể thức thi đấu. Trong giai đoạn 1980-1995, các đội bóng tham dự giải được phân vào các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Các đội nằm ở tốp đầu mỗi bảng sẽ tranh tài ở vòng chung kết để tranh chức vô địch, còn các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng sẽ thi đấu vòng chung kết ngược để chọn ra các đội xuống hạng.

Tại mùa giải năm 1996, 12 đội tham dự thi đấu vòng tròn 2 lượt. Sau khi kết thúc 2 lượt này, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội xuống hạng. Từ năm 1997 đến năm 2013 (trừ giải Tập huấn Mùa Xuân năm 1999), các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Đội ghi được nhiều điểm nhất sẽ giành chức vô địch. Còn các đội đứng cuối bảng (1 hoặc 2 đội tùy năm) sẽ phải xuống hạng.

Giải lên chuyên nghiệp từ mùa 2000–01 nhằm cho phép các câu lạc bộ tuyển trạch các cầu thủ nước ngoài và cầu thủ nhập tịch tham gia thi đấu. Với sự ra đời của VPF vào năm 2012, quyền tổ chức được chuyển từ VFF sang VPF, cùng với đó tên giải đổi thành Giải bóng đá Ngoại hạng (Super League).[7] Tuy nhiên, sau 5 vòng đấu, giải lấy lại tên là Giải VĐQG Việt Nam (V.League).[8][9] Sang mùa giải 2013, VPF thay đổi tên viết tắt của giải thành V.League 1.[10]

Biến động lớn nhất chính là số lượng các đội tham dự giải. Trước khi bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, con số này liên tục thay đổi: lúc thì 16,17 đội, khi thì 18, 19, 20 đội, có thời điểm lên đến 27 đội (vào năm 1987) và 32 đội (vào năm 1989).

Khi V.League ra đời, con số này đã co lại nhưng cũng không ổn định. Trong 2 mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên (2000–01 và 2001–02), số lượng đội bóng tham dự V.League đều là 10 đội. Bước sang mùa giải 2003, số lượng câu lạc bộ tranh tài ở sân chơi V.League tăng thành 12 đội. Con số này giữ nguyên đến mùa giải 2005 trước khi tăng lên thành 13 đội ở mùa giải 2006 (lẽ ra đã là 14 nếu như Câu lạc bộ Ngân hàng Đông Á không mất quyền tham dự do dính vào vụ hối lộ trọng tài ở giải hạng Nhất 2005). Một năm sau, lần đầu tiên trong lịch sử V.League chứng kiến cuộc tranh tài của 14 đội bóng ở giải đấu hạng cao nhất của bóng đá Việt Nam.

Con số này giữ nguyên trong vòng 6 năm trước khi giảm xuống còn 12 đội ở V.League 2013 sau khi hàng loạt đội bóng bị giải thể hoặc chuyển giao. Theo dự kiến ban đầu, số lượng các đội bóng tham dự V.League 2014 quay trở lại con số 14, tuy nhiên Câu lạc bộ bóng đá KienLongBank Kiên Giang không đủ kinh phí để đăng ký tham dự giải nên con số này chỉ còn là 13.[11] Từ mùa giải 2015, số đội tham dự mỗi mùa giải là 14. Tới năm 2021, đến lượt Câu lạc bộ Than Quảng Ninh dừng hoạt động vì không còn kinh phí trước tác động của dịch COVID-19 mặc dù đang đứng thứ 3 trên bảng xếp hạng.[12]

Thể thức thi đấu

  • Từ mùa giải 1980 đến 1995: các đội chia thành các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Các đội ở tốp đầu lọt vào vòng chung kết để tranh chức vô địch, Các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng thi đấu vòng chung kết ngược để chọn đội xuống hạng.
  • Mùa giải 1996, tất cả các đội (12 đội) thi đấu vòng tròn hai lượt. Sau khi kết thúc đợt 1, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội phải xuống hạng
  • Mùa giải 1997 đến 2019 (trừ giải tập huấn mùa xuân năm 1999): các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Đội nhiều điểm nhất là đội vô địch. Các đội cuối bảng (1 hoặc 2 đội tuỳ năm) phải xuống hạng.
  • Mùa giải 2020 (do đại dịch COVID-19 tại Việt Nam) và 2023 (do thay đổi lịch thi đấu theo năm từ xuân – đông sang thu – hè kể từ mùa giải 2023–24), sau khi đấu vòng tròn 1 lượt xong, 8 đội xếp trên sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra nhà vô địch, 6 đội còn lại sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra 1 suất xuống hạng.
  • Mùa giải 2021, sau khi đấu vòng tròn 1 lượt xong, 6 đội xếp trên sẽ đá vòng tròn một lượt để tìm ra nhà vô địch, 8 đội còn lại đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra 1 suất xuống hạng và 1 suất vé vớt (play-off) với đội đứng thứ 2 giải hạng Nhất.

Cách thức tính điểm

  • Từ mùa giải 1996 trở về trước, hệ thống điểm là 2-1-0 (tương ứng với mỗi trận thắng-hòa-thua). Tuy nhiên có một số ngoại lệ:
  • Mùa giải 1986: Ở vòng 1, trận hoà thứ tư của mỗi đội không được tính điểm; ở vòng 2, nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Mùa giải 1987: Ở vòng 1, trận hoà thứ năm của mỗi đội không được tính điểm; ở vòng 2, nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Mùa giải 1993–94 và 1995: Nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Từ mùa giải 1997 trở đi, hệ thống điểm là 3-1-0.

Cách thức xếp hạng

Xếp chung cuộc theo thứ tự sau:

  • Điểm số các đội (theo thứ tự từ cao đến thấp)
  • Nếu có 2 hoặc nhiều đội bằng điểm nhau thì xếp theo thứ tự qua các chỉ số phụ:
  • Kết quả đối đầu trực tiếp
  • Hiệu số bàn thắng thua
  • Tổng số bàn thắng

Tuy nhiên, trong một số năm, tiêu chí hiệu số bàn thắng thua và tổng số bàn thắng được ưu tiên hơn kết quả đối đầu.

Quy định số lượng cầu thủ ngoại và nhập tịch

Giải bắt đầu cho phép sử dụng cầu thủ ngoại từ năm 2000. Hiện tại, các câu lạc bộ được phép đăng ký 3 cầu thủ ngoại, 1 cầu thủ nhập tịch còn cầu thủ gốc Việt Nam được coi như cầu thủ nội. Đối với các đội dự giải châu lục được phép có thêm 1 cầu thủ ngoại quốc tịch châu Á. Trường hợp câu lạc bộ bị loại ở giải cấp châu lục trong giai đoạn 1 thì số lượng cầu thủ ngoại và nhập tịch ở giai đoạn 2 được áp dụng như các câu lạc bộ không tham gia giải châu lục.

Đừng quên truy cập Cakhia TV để xem nhiều trận cầu hấp dẫn của V.League.

Bạn có thể tắt sau 5 giây
Quên mật khẩu?
Không vấn đề gì, quên mật khẩu là điều hết sức bình thường.
Chọn giải khác